Showing posts with label tư liệu. Show all posts
Showing posts with label tư liệu. Show all posts

Monday, February 10, 2014

Toàn bộ sự thật về voi ma mút

>> Tình mẫu tử của người mẹ ăn xin
>> Những tiệm sách ấy, bây giờ ở đâu?
>> Kiệu chúa lật nhào trong lễ hội rước vua sống ở Hà Nội (Hic, điềm xấu?)
>> Thịt bò Mỹ bị thu hồi: không ảnh hưởng tới Việt Nam


Bạn muốn biết tất cả về voi ma mút? Chẳng bao lâu nữa cơ hội như vậy sẽ xuất hiện. Cổng thông tin cổ sinh học duy nhất kết hợp tất cả các cơ sở dữ liệu điện tử của voi ma mút trên toàn thế giới đã được các chuyên gia của Viện Hàn lâm Khoa học Cộng hòa Sakha (Yakutia) khởi động trong chế độ thử nghiệm. Phát triển cơ sở dữ liệu điện tử được bắt đầu từ mùa thu năm ngoái. Và gần đây, Viện đã nhận được bằng sáng chế cho cổng thông tin này, ông Albert Protopopov, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu voi ma mút của Viện Hàn lâm Yakutia, cho biết.

Theo nhà khoa học, việc tạo ra các cơ sở dữ liệu trên máy tính là xu hướng chung của khoa học hiện đại. Trong 5-6 năm qua, không ít các cổng thông tin về động vật học, thực vật học, khảo cổ học và cổ sinh vật học khủng long đã được thành lập, tạo ra nguồn quỹ kiến thức chung quý báu cho nhiều cơ quan nghiên cứu khoa học có thể cùng sử dụng, ông Albert Protopopov lưu ý. Các chuyên gia Yakutia cũng tạo “cổng thông tin ma mút” của mình với nguyên tắc tương tự.

“Cổng thông tin đang qua chế độ thử nghiệm, chúng tôi nghĩ rằng đến tháng Ba cổng sẽ hoàn toàn có khả năng hoạt động. Ý tưởng cơ bản là kết hợp trong một trường thông tin duy nhất tất cả các dữ liệu về những chủ thể cổ sinh học hiện đang có tại các cơ quan khoa học khác nhau trên toàn thế giới. Đó là ở Nga, ở Hoa Kỳ, châu Âu và thậm chí cả ở châu Phi. Hai ngôn ngữ sử dụng sẽ là tiếng Anh và tiếng Nga. Dự án này được hỗ trợ bởi các viện nghiên cứu cổ sinh học của Nga và Trung tâm nghiên cứu voi ma mút Hot Springs ở Hoa Kỳ”.

Các chuyên gia Yakut cũng đặt nhiều kỳ vọng vào sự hợp tác với các đồng nghiệp của mình từ Nhật Bản và Hàn Quốc trên cổng thông tin này, lãnh đạo bộ phận nghiên cứu loài voi ma mút của Viện Hàn lâm Yakutia cho biết:

“Chúng tôi đang làm việc với người Nhật. Các đồng nghiệp của chúng tôi từ Bảo tàng voi ma mút đang hợp tác với các nhà nghiên cứu Hàn Quốc về nghiên cứu ADN của voi ma mút. Đây là những nghiên cứu chuyên ngành. Tôi hy vọng rằng các trung tâm nghiên cứu Nhật Bản và Hàn Quốc cũng sẽ tham gia vào cổng thông tin này”.

Theo nhà khoa học, cổng thông tin được thành lập từ số tiền thu được trong những cuộc triển lãm voi ma mút Yuka ở nước ngoài. Voi ma mút Yuka được tìm thấy ở Yakutia vào năm 2010 và được xác định đã sống ở nơi này khoảng 40 ngàn năm trước. Và mặc dù không phải là phát hiện đầu tiên tương tự, đây vẫn là một phát hiện rất độc đáo. Bộ não của voi Yuka vẫn còn được giữ nguyên, điều chưa từng có trong các phát hiện voi ma mút hóa thạch khác. Thông thường, ngay cả khi hộp sọ vẫn còn, bộ não cũng không bảo quản được do bị khô quắt đi hoặc do các quá trình thối rữa, chuyên gia nhấn mạnh:

“Phát hiện này là vô cùng độc đáo bởi vì đó là bộ não duy nhất của voi ma mút còn nguyên vẹn mà khoa học ngày nay có được. Nguyên mẫu đã bị khô đi ít nhiều, tuy nhiên toàn bộ đặc điểm hình thái học vẫn được bảo quản. Dựa trên cơ sở đó có thể tạo được Bản đồ não bộ của voi ma mút. Đây là một bước đột phá lớn vì đây sẽ là bản đồ mà chúng tôi sẽ bắt đầu sử dụng để tiến hành nghiên cứu những khía cạnh đặc thù về hành vi của voi ma mút cũng như tính biến đổi sinh thái của chúng khi so sánh với não của loài voi thường”.

Còn về “Cổng thông tin ma mút”, buổi ra mắt chính thức dự án sẽ được tổ chức vào tháng Ba ở Yakutsk, sau đó, tại hội nghị quốc tế ở Hy Lạp vào tháng Năm, cổng thông tin sẽ được trình bày trước cộng đồng khoa học thế giới, nhà khoa học thông báo.

Nguồn: Tiếng nói nước Nga


Xem thêm:
- Lý sự của những con đĩ
- Đó là đa nguyên đấy các cụ ạ!
- Chợ đời nhốn nháo nói leo

Sunday, December 22, 2013

Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ

>> Vì sao xảy ra Hải chiến Hoàng Sa 1974?
>> Khắc phục hậu quả tốt, Dương Chí Dũng thoát án tử? (lại làm công tác tư tưởng dư luận!)
>> Cần suy ngẫm vì sao nhiều người vẫn phải bán hàng rong


HUỲNH NGỌC TRẢNG - NGUYỄN ĐẠI PHÚC

Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam.

Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích;
Ông Trí tiên tu hậu hữu danh.

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí.

Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại - đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoảng hơn 40 ngôi chùa mục đồng khắp các địa phương ở Nam Bộ.

1. Chùa mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình - chùa - miếu - võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt... và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư Tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp...

Ở An Phước tự (tục danh chùa mục đồng Hóc Tra / An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) - cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi: nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dưới chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình... khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự / Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú... cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi, TP.HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử - Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật  chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy - để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng trùm cả và trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, hương chức đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa lá để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo...

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi giạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ Phật tử... và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam Bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo quy phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi quy về đồ tượng học Phật giáo: quý tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục... Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ.... Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình, chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập họp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP.HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ kheo hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó - tất nhiên là không hoàn toàn đúng như quy thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của Đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện.

Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng - một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tượng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa - tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử
.(1) Theo quan niệm phổ biến ở Nam Bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỷ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đông ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nỗ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện... lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một sô thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.

Nguồn: Giác Ngộ


Xem thêm:
- Quyền năng của chữ nhẫn
- Hãy nhìn vào Phật, chớ nhìn vào Tăng
- Đất nước nhìn từ những tượng Phật thật to

Monday, November 18, 2013

Cùng một thời

>> Nước lớn nhưng bụng nhỏ
>> Lũ lụt miền Trung: Lãnh đạo và tư duy!
>> Cuộc đua vào ghế thủ tướng 2016 tại VN
>> “Tui chẳng biết hội đồng nhân quyền là cái gì…”





Một ông Thượng Thư Nhật
Một ông Thượng Thư Annam

nguồn: Phong Hóa 135 (8 février 1935), tr. 2.

Người đại diện nước mình mặc âu phục lịch sự thì nước mình tiến bộ.
Người đại diện nước mình mặc đồng phục lịch sự nước mình lạc hậu.

Cùng một thời (Contemporaries) - Đông Sơn (1935)

Theo: Tây Bụi


Xem thêm:
- Tử huyệt?!
- Tội đồ quốc gia!
- Tiên sư cha thằng cơ chế !

Wednesday, October 23, 2013

Tôn Trung Sơn bí mật sang An Nam, chui vào nhà hát cô đầu để làm gì?

>> Quy định thu hồi đất chưa ổn
>> Hiến pháp mới là chuyện buồn?
>> Tướng Giáp không đi Mỹ, vì sao?



Hồi trước, Tôn Trung Sơn - lãnh tụ của cách mạng Trung Hoa - đã từ thế giới phương Tây, trên đường hoạt động, ghé thăm Nhật Bản. Nếu kể như thế, thì chẳng có ai ngạc nhiên. Mọi người sẽ lườm cho: thôi, biết rồi, khổ lắm. Được lợi, thật ra là lợi về mặt danh dự, chỉ có con cháu của cái tiệm bánh bao ở gần nhà ga, góc một cái đường giữa Yokohama hoành tráng. Chúng sẽ rất thân thiện kéo vào tiệm, và mau mắn giở tờ me-niu ngả màu thời gian ra, rồi bảo: đây, đúng là món bánh bao ngày trước Tôn lãnh tụ đã dùng, mà ông cụ nhà tôi đã trực tiếp chế tác. Người ta không tính thêm tiền vào bánh bao, có khi hứng còn mời mình ăn thử và uống nước chè, nhưng mình cần dành một chút thời gian và nói dăm ba câu để làm lãi cho họ.

Bây giờ, tự dưng bảo: Tôn lãnh tụ cũng đã bí mật sang An Nam rồi. Mà đúng lãnh tụ Tàu. Ông đi thẳng vào mấy cái nhà hát cô đầu ở phố Hàng Giấy.

Nói thế, không có bằng chứng, sao người ta tin được. Ai chứ, vĩ nhân như Tôn Dật Tiên lãnh tụ lại vào chốn bình khang như vậy ?

Lãnh tụ đi cô đầu. Thánh nhân bước vào tiệm thanh lâu. Cũng không có gì lạ cả. 

Đầu tiên, cần phải xem lại, các tiệm cô đầu nổi tiếng ở đất Hà Thành ra làm sao đã. Đây, xem lại cái này.

1. Quả thực, cụ Tôn Trung Sơn qua bên An Nam không phải một, mà rất nhiều lần. Cụ sang có khi để lên Bắc Giang gặp Hoàng Hoa Thám, tính góp thêm độ vài ngàn quân, cùng súng ống, cho cuộc khởi nghĩa của cụ Đề. Có khi cụ vào Sài Gòn để gặp đồng bào của mình. Lại cũng có khi, cụ rong ruổi về ngắm Phủ Giầy ở Nam Định cho tường lai lịch Mẫu Liễu ra sao mà dân An Nam mê vậy.

Cụ đã từng xuống tận quê tôi. Nghe mạn dưới đó có những tay hảo hán, cụ muốn kết giao. Sau này, không biết có phải do dư âm hay không, nhưng những Lâm Đức Thụ (tức Nguyễn Công Viễn) và các anh em, đã lên đường sang Quảng Châu, đi làm cách mạng giữa cái nôi của Trung Hoa Dân Quốc.

Cũng có nghĩa là cụ Tôn Trung Sơn sang An Nam, từ hồi, mà Nguyễn Tất Thành còn chưa xuất dương. Lúc cụ Tôn đang nghe tiếng trống chầu ở phố Hàng Giấy (Hà Nội) thì chắc anh đang còn ở vùng Phan Rang - Phan Thiết.

2. Sau này, người phát dương tư tưởng của cụ ở Việt Nam mạnh mẽ nhất, thành công nhất, lại chính là Nguyễn Tất Thành. Tuy hai người chưa bao giờ gặp nhau.

Bây giờ, ngày nào cũng như ngày nào, chúng ta đang tiếp xúc, sử dụng, tiêu xài, khuếch trương, ... những cái, mà thật ra là của cụ. Nguyễn Tất Thành đã Việt Nam hóa, và chúng ta không còn biết đó vốn là của cụ nữa.

3. Hồi đó, cụ đến phố Hàng Giấy. Tiêu tiền như nước (cụ vốn là tay cự phú ở Trung Hoa mà). Mấy chí sĩ Việt Nam được cụ mời ra nhà cô đầu trên phố ấy, thì lúc đầu giật mình khi nhận được danh thiếp của cụ và lời nhắn ghi trên đó. Các ông ấy bụng bảo dạ: cớ làm sao mà đấng đại trượng phu như Dật Tiên lại vào chốn đấy ? 

4.Té ra không phải. 

Tôn Trung Sơn vào phố cô đầu, thì đầu tiên cũng phải như khách đến với cô đầu đã. Nhưng đó chỉ là bình phong. Cụ vào đó, để dễ bề trốn mật thám Pháp, mà có được không gian đàm luận chuyện cách mạng.

Vào đấy cũng còn để tránh mặt cả quan toàn quyền của Pháp. Bạn cụ cả mà. Nếu quan toàn quyền mà biết, lại linh đình đón rước, sao cụ có cơ hội gặp gỡ anh này, nói chuyện với anh kia được.

Đấy là chỗ mà vĩ nhân khác người thường. Và cũng không đòi hỏi người thường cứ phải học vĩ nhân. Ông vào để gặp các ông bên Đông Kinh nghĩa thục, thì mặc, người khác vào chỉ để gặp cô Tuyết cô Hồng thôi.

Các ông bạn Việt Nam, đến nơi mới biết kinh nghiệm tuyệt vời của lãnh tụ họ Tôn. An toàn nhất, hóa ra, là chốn bình khang. Bình khang đúng có nghĩa là an toàn thật!

Bây giờ, hình như mọi chốn đều điên đảo cả. Chốn bình khang chắc cũng thế, chả dại gì mà vào đó bàn chuyện cách mạng này nọ. 

Nguồn: Blog Giao

P/s: ... hai cái bao cao su!

Xem thêm:
- Chuyện con nít
- "Tự do" không thích to thì teo
- Chỗ này vừa tự bị đục bỏ


Friday, October 11, 2013

Tư liệu là cái khách quan, có khi đến độ tàn nhẫn

>> Vĩnh biệt một thời đại
>> "Trang phục siêu nhân" cho lính Mỹ
>> Bắc Triều Tiên: muôn mặt đời thường


Nguồn >>> tại đây!
Tôi phá lên cười khi thấy phát hiện thú vị của >>> bác Trần Hùng liên quan đến việc Đại tướng được giao nhiệm vụ Chủ tịch Ủy ban Dân số và Sinh đẻ có kế hoạch hồi giữa thập niên 1980. Phát hiện tuy nhẹ nhàng, nhưng rất trúng.

Cụ thể là, đã có sự khác nhau một trời một vực giữa: một bên là lời kể chay của người thư kí của Đại tướng - ông Đại tá Nguyễn Văn Huyên, và một bên là tư liệu hai năm rõ mười mà bác Trần Hùng trình ra.

Sự kiện chưa cách xa chúng ta mấy, mới chỉ từ năm 1984 thôi, chứ đâu phải là 1944 hay 1934 (1924, vân vân).

Thậm chí, xin tiết lộ với bác Trần Hùng rằng, vào năm 1986, một nhóm học sinh chuyên (trong đó có tôi) đã được cử đến chào và tặng hoa cho Đại tướng cùng phu nhân Đặng Bích Hà. Tôi lúc ấy gọi Đại tướng là "Bác" nhưng lại gọi phu nhân là "Cô" (thực ra, nếu đúng, tôi phải gọi là "Ông" và "Bà"). Bác lúc ấy về địa phương, với tư cách, đúng thực là Trưởng Ban Sinh đẻ có kế hoach thật. Ở địa phương lúc đó họ trình trọng giới thiệu đúng như vậy. Bác được đón tiếp ở nhà khách của Tỉnh ủy, vào buổi tối, và sáng hôm sau thì đi tuyến tỉnh tuyến huyện để thị sát tình hình. Lúc khác, khi thực sự cần thiết và thuận tiện, tôi sẽ trình ảnh chụp và các loại tư liệu của buổi tối hôm ấy.

Nguồn >>> tại đây!

Bài học rất giá trị, để chúng ta chớ vội tin lời kể không bằng chứng của thư kí. Mà lời kể không bằng chứng của chính đương sự, để có thể sử dụng, phải mất rất nhiều công sức xác nhận. 

Bản thân chúng ta, nhiều khi còn phải dựa vào chính tư liệu để xác nhận trí nhớ của mình. Tư liệu là cái khách quan, có khi đến độ tàn nhẫn.

Nguồn: Blog Giao

P/s: Có những điều, tốt nhất là nên im lặng!


Xem thêm:
- Tầng 80
- "Cột cờ cao đến đây là hết!"
- Khi niềm tin đỗ vỡ


Friday, September 20, 2013

Dựa theo tài liệu chính quy, Trần Dân Tiên là bút danh của Hồ Chủ tịch

>> Khùng, khùng, khùng
>> "Sức khỏe" nền kinh tế nhìn từ mùa bánh Trung thu
>> Vụ chôn thuốc trừ sâu: Sở TN-MT “ém” kết quả phân tích?
>> Hành xử như thế, dân không chán mới lạ!
>> Kỷ luật cán bộ "ngồi trên trời làm luật"


Một phần tư thế kỉ đi qua, vẫn kiên trì quan điểm Trần Dân Tiên là bút danh của Hồ Chủ tịch, vì dựa chắc chắn theo tài liệu chính qui.

Đây là trường hợp bác Hà Minh Đức - Giáo sư văn học, Nhà giáo Nhân dân, người từng trải nhiều chức vụ quan trọng, và đặc biệt đã nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. 

Tư liệu cụ thể thì như sau.



1. Năm 1985 (tức là ở vào đêm trước của Đổi Mới, và nhà nghiên cứu nói rõ là ông dựa vào tài liệu chính thức đã xuất bản năm 1976):


2. Năm 2010 (một phần tư thế kỉ trôi qua, ông vẫn giữ nguyên quan điểm của năm 1985):

Trích từ sách Sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh (trang 316) - Hà Minh Đức, Nxb KHXH, 2010
3. Nhà nghiên cứu dựa theo tài liệu chính qui, của một ban biên soạn chính qui, xuất bản bởi nhà xuất bản chính qui. Bởi vậy, về phương diện xuất xứ thông tin, với trường hợp này, không có gì phải bàn. 

Giới học thuật, bạn đọc bình thường, hay cơ quan liên quan đến xuất bản nếu có ý kiến khác, thì rõ ràng, tác giả với bao nhiêu lần tái bản suốt một phần tư thế kỉ qua (1985-2010) sẽ đưa ra lí không cãi được: tôi dựa vào sách chính qui đã xuất bản năm 1976.

Nguồn: Blog Giao


Xem thêm:
- Vấn đề thú vị của báo Mỹ
- Lương ở Việt Nam, lương ở Mỹ
- Phỏng vấn một giám đốc tình báo : Đào tạo và tuyển mộ

Tuesday, August 6, 2013

Những năm 1930 -1940, Hà Nội có bao nhiêu phụ nữ theo nghề bán hoa?

>> Lấy ý kiến dân về báo cáo nhân quyền quốc gia (Chắc cũng giống như góp ý Hiến pháp?)
>> Gói 30.000 tỷ đồng đang đi về đâu?
>> Ông Bùi Văn Nam trở lại làm Thứ trưởng Công an
>> Kinh tế Việt Nam: Thời điểm trả giá cho các thị trường đầu cơ
>> Lo mục tiêu công nghiệp hóa khó thực hiện (nhân tiện mời bà con xem lại bài >>> này)


Đó là một kết quả nghiên cứu đã được công bố của bà Lê Thị Nhâm Tuyết - một nhà nghiên cứu Việt Nam, chuyên vấn đề phụ nữ. Trong cuốn sách trên.

Bản tiếng Việt của sách đã được xuất bản ở Việt Nam vào năm 1973:

Khoảng những năm cuối thập niên 1930, ở Hà Nội có 270 nhà hát, 20 vũ trường, 15 nhà chứa công khai, và một số nhà chứa lậu thuế. "Nhà hát" có khi là hộp đêm, quán bar.

Dân số Hà Nội lúc đó khoảng 10 vạn người, mà số người làm nghề gái nhảy hay xương kĩ hát ca có tới 1 vạn (theo cuốn Lịch sử thủ đô Hà Nội của nhóm Trần Huy Liệu, xuất bản năm 1960). Trong số 1 vạn này, một lượng rất lớn, nếu không muốn nói hầu như toàn bộ, là phụ nữ bán hoa. Cho nên, thành ra kết quả như trên. Một con số đáng kinh hãi, và cũng thực đáng nghi ngờ.

Lúc đó, người ta bán con đi làm người ở trong các nhà giàu với giá: 1 đồng rưỡi một đứa. Tiền lương của thầy giáo (trong tiểu thuyết của Thạch Lam) là khoảng  5 - 6 đồng.


Nguồn: Blog Giao

P/s: ...tức là cứ khoảng 10 người Hà Nội thì có 1 phụ nữ theo nghề bán hoa (?)

Xem thêm:
- GS Thuyết: PCT Đà Nẵng nói thiếu nhân văn!
- Họ nhân danh cái gì mà nhục mạ người khác như vậy nhỉ?
- Chiếc giường đắt nhất thế giới và "triết lý" của lão già Lê Ân