Showing posts with label đồng hóa. Show all posts
Showing posts with label đồng hóa. Show all posts

Friday, December 13, 2013

"Chinatown" ở Đà Nẵng

>> “Phố” Trung Quốc tại Đà Nẵng
>> Có bộ trưởng chẳng biết mình là ai?
>> Một chiều trong công viên 29/3 nghĩ về Đà Nẵng
>> Xử tham nhũng thật nghiêm là cách ổn định chính trị tốt nhất
>> Tôi thấy một ‘thằng tôi’ trong Dương Chí Dũng (Ngụy biện!)
>> Nhan nhản biển hiệu chữ Trung Quốc trên đường phố Đà Nẵng


Báo PLTP >>> sáng nay cho biết:

" ...nhiều người dân và du khách khi đến khu vực đường Hoàng Sa - Trường Sa thuộc hai quận Sơn Trà và Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng sẽ thấy một khu phố Trung Hoa đang hình thành.Chỉ trong một đoạn khoảng 5 km chạy dọc ven biển vào phố cổ Hội An (Quảng Nam), ở hai bên đường có tới hàng chục nhà hàng, khách sạn, quán ăn, tiệm cho thuê xe, quán bar…, thậm chí cả tiệm massage treo bảng hiệu, bảng quảng cáo bằng tiếng Trung Quốc."

Trưa qua , gặp một nhà nghiên cứu sử học ở ĐN ông cũng nói rằng ở khu vực này từng có một nhà hàng đã trưng biển hiệu là "CHÍN KHÚC", lúc mới thấy cũng chỉ nghĩ chủ nhân tên Chín Khúc, như kiểu anh Hai Nhứt, Ba Xàm, Tư Râu, ..Mười Mập...vậy thôi, sau mới hay đây là một nhà hàng khách sạn của một anh Tàu, như vậy thì "Chín Khúc " này là Chín đoạn lưỡi bò mất dạy của nó! Cái đệk, vậy là buộc nó tháo ngay, nghe nói nó tháo biển Chín Khúc nhưng thay = cái tên "Một Tám", nghĩa là cộng lại vẫn..= 9!

Hồi 2009, khi còn blog Yahoo360 mình có viết một bài về những " xảo mưu" của Trung Quốc tại Đà Nẵng, blog Yahoo360 bị xóa, nhưng đoạn nói về chuyện này anh Osin có trích lại trong entry "Tháng 2-1979 và tự sự của một người đã từng là lính"


"Khi tôi đang viết entry này thì đọc được trên blog Nông Dân Gió Lào: Người Trung Quốc sẽ tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Hà Nội, dự kiện bế mạc vào ngày 17/2 năm nay (tức đúng dịp kỷ niệm tròn 30 năm cuộc xâm lược của TQ ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc, 17-2-1979/ 2009-nv).

Nông Dân Gió Lào cũng dẫn tin trên Vietnamnet nói rằng: Năm 2004, người Trung Quốc cũng đã tổ chức một Lễ hội Hoa đăng ở Đà Nẵng, khai mạc đúng vào ngày 19/1. Năm ấy, họ kết 30 cụm hoa đăng, theo Nông Dân Gió Lào, ứng với 30 năm ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, một huyện đảo thuộc về Đà Nẵng (19/1/1974- 19/1/2004).

Có thể bởi "tình đồng chí "mà khi cấp phép, chính quyền địa phương đã không quan tâm lắm đến sự trùng hợp này. Nhưng, Nông Dân Gió Lào cho rằng các "chú Tàu" thì không làm gì "ngẫu nhiên", kể cả việc, hồi cuối tháng 11, họ cho tàu mang tên Trịnh Hoà (người mà họ nói là đã phát hiện ra Hoàng Sa và Trường Sa), cập cảng Đà Nẵng.

Chiều qua, 12-12, HĐND TP Đà Nẵng thống nhất chon quảng đẹp nhất giữa 2 con đường Hoàng Sa-Trường Sa để đặt tên đường Võ Nguyên Giáp. Không biết Tướng Quân sẽ khóc cười thế nào đây khi người Tàu cứ vác tiền vào để biến tuyến đường này thành Chinatown?

hu hu, thứ 6-13!
cái đệk!

Saigon Guider

Nguồn: FB Lê Đức Dục

P/s: ...thuyết âm mưu!


Xem thêm:
- Cũng sắp hết năm rồi còn gì?!
- Tham nhũng: Rõ mười mươi rồi nhé!
- Đại biểu Quốc hội phải bàn những vấn đề gì?!

Thursday, October 24, 2013

Phiếm đàm về Viện Khổng Tử

>> Nhà báo TQ 'không ca ngợi Nhật Bản'
>> Malaysia tăng cường võ trang đề phòng Trung Quốc
>> Ấn Độ ủng hộ Philippines trong vụ kiện "đường lưỡi bò" Trung Quốc


Huỳnh Văn Úc

- Này! Một trong những điểm nhấn trong chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường là thỏa thuận về Viện Khổng Tử được đề cập đến trong tuyên bố chung ngày 15/10/2013. Viện này sẽ được thành lập tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

- Ông Lý Khắc Cường chỉ hoàn thành nốt cái công việc mà ông Tập Cận Bình vào cuối năm 2011 trên cương vị Phó Chủ tịch Trung Quốc đã đề cập với lãnh đạo Việt Nam. Nhưng mà hay ho gì cái thứ người ta vứt đi hoặc chê bai bây giờ nước mình lại trịnh trọng thành lập. Học Viện Khổng Tử thuộc Trường Đại học McMaster University Canada bị đóng cửa từ tháng 7/2013 sau năm năm hoạt động. Học Viện này bị chỉ trích là được chỉ đạo bởi Tổng Lãnh sự Trung Quốc tại Canada để làm công tác tình báo nhằm chi phối và gây ảnh hưởng tới các quan chức bản xứ. Người Anh cho rằng sự tồn tại của Viện Khổng Tử ở Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị Luân Đôn (LSE- London School of  Economics and Political Science) là một điều kỳ quặc vì Khổng Tử vốn trọng Nho học và xem khinh buôn bán. Tờ China Daily đưa ra một thống kê cho rằng có 64 Viện Khổng Tử đang hoạt động trong các trường đại học ở Mỹ. Cũng tờ báo này lại mâu thuẩn với chính mình khi đưa ra một thống kê rằng có 81 Viện Khổng Tử ở Mỹ. Năm 2012 có 51 trong số 600 giảng viên người Trung Quốc làm việc trong các Viện này buộc phải về nước vì vi phạm luật di trú của Mỹ. Mà theo tôi Khổng Tử được suy tôn là Vạn thế Sư biểu-Bậc thầy của muôn đời nhưng đâu có phải là con người hoàn hảo.

- Sao anh lại nói ông ấy lại là con người chưa được hoàn hảo?

- Nhân vô thập toàn. Trong sách Luận Ngữ ông ấy viết như thế này về phụ nữ: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nam dưỡng dã: cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán” (Duy có nữ tử và tiểu nhân là khó nuôi, gần nó thì nó vô phép, xa nó thì nó oán hận). Khi đem phụ nữ ghép liền với tiểu nhân không hiểu Không Tử có nghĩ đến mẹ mình không?

- Chắc cũng phải có hoàn cảnh cụ thể thế nào ông ấy mới viết câu ấy để lại cho đời sau chứ?

- Có đấy! Khổng Tử sinh năm 551 TCN vào thời Xuân Thu tại làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông). Ông là người có dị tướng: người cao lớn, mặt to và có những vạch như quả dưa, mắt lồi, lỗ mũi rộng, lộ hầu, râu rậm, mồm rộng, răng thưa. Với ngoại hình như vậy ông khó mà lấy được cảm tình của các cô gái. Trong quá trình đi cưa kéo phái nữ chắc phải nhiều lần bị từ chối hay chế nhạo vì vậy chuyện ông có viết một câu không hay về phụ nữ âu cũng là một điều dễ hiểu. Tuy vậy đến năm 19 tuổi Khổng Tử cũng lấy được vợ. Vợ ông là Nguyên Quan thị người nước Tống. Năm 20 tuổi sinh con tên là Bá Ngư. Khổng Tử cả đời đem đám học trò đi du thuyết các nước nhưng chẳng có ai trọng dụng, cuối đời về quê mở lớp dạy học và…ly hôn với vợ, thời ấy gọi là “xuất thê”. Tôi cho rằng đó là một việc làm bất nhân vì trong khi Khổng Tử đi chu du thiên hạ thì Nguyên Quan thị ở nhà chờ chồng, nuôi con và phụng dưỡng tứ thân phụ mẫu, không có lý do gì để ruồng rẫy một người vợ như thế.

- Tôi cũng thấy như vậy. Bát điều mục của Nho giáo viết trong sách Đại Học gồm có: Cách vật-Trí tri-Thành ý-Chánh tâm-Tu thân-Tề gia-Trị quốc-Bình thiên hạ. Điểm lại cuộc đời của Khổng Tử tôi chỉ thấy ông ta làm được mỗi cái việc Tu thân, các việc còn lại là Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ ông ta chẳng làm gì được sất. Vậy thì việc thành lập một Viện Khổng Tử để học tập ông ấy xem ra cũng chỉ là việc làm vô bổ.

- Chẳng qua nó là cái sự đời!

- Sự đời là làm sao?

- Sự đời nó như thế này:

"Sáng trăng em tưởng tối trời
Em ngồi em để cái sự đời em ra
Sự đời bằng cái lá đa
Đen như mõm chó tiên sư cha cái sự đời."

Nguồn: Trần Nhương

P/s: ... diễn biến hòa bình!

Xem thêm:
- Văn hóa ngoại giao!?
- Một lẻ ba, người mãi xa Hà Nội
- Bá quyền văn hóa đe dọa Việt Nam

Wednesday, October 16, 2013

Bá quyền văn hóa đe dọa Việt Nam

>> Bão về, con hai tháng tuổi mất cha
>> Quảng Bình: 5 người chết và mất tích vì mưa lũ
>> Quảng Nam: Dân gồng mình chống bão, Bí thư Tp. Tam Kỳ “vô tư” ngồi nhậu
>>>>> Ông Dương Chí Dũng đối mặt với án tử!



Lời bàn: Post lại một bài viết cũ (2009), nhân vụ hai chính phủ nhất trí mở Học viện Khổng Tử ở Việt Nam. Truyền bá văn hóa của đất nước mình là điều bất kỳ chính phủ nào cũng nên tiến hành, và nếu Trung Quốc có làm thế, cũng là điều dễ hiểu. Vấn đề là làm sao để có sự trao đổi văn hóa song phương và mọi quan hệ đều phải là hợp tác tương hỗ.(Đoan Trang)

ĐOAN TRANG

Nhìn vào độ chiếm sóng của phim Trung Quốc trên các đài truyền hình ở Việt Nam, nhiều người lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng. Khả năng đó có thật, và nó là biểu hiện của một hình thức bá quyền tinh vi: bá quyền văn hóa - một phần quan trọng trong chính sách bá quyền của nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ.

Giai điệu chủ

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1987...

Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng "giải trí hóa" phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim "giai điệu chủ" nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới.

Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là "giai điệu chủ":

• Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt - gọi chung là phim "thần tượng tuổi trẻ";
• Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử ("Tam Quốc Diễn Nghĩa", "Vương triều Ung Chính", "Khang Hy", "Thái Bình Thiên Quốc"…), dã sử ("Tể tướng Lưu Gù", "Hoàn Châu Cách Cách"...)
• Dòng phim gia tộc luân lý ("Mùa quít chín", "Gia tộc Kim Phần"…)
• Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa ("Khát vọng", "Câu chuyện Thượng Hải"…) hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng (Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…)
• Dòng phim hình sự, chống tham nhũng ("Xứng danh anh hùng", "Khống chế tuyệt đối"…)

Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng.

Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Nhà nước: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến "giá trị Trung Hoa" tới các quốc gia trong khu vực.

Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn, bởi "đây là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thay vì văn hóa Ấn Độ", như lời tác giả Hạo Kiện viết trong cuốn "Phim truyền hình Trung Quốc - nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu loại hình" (NXB Điện ảnh Trung Quốc, 2008).

Phần lớn các phim "giai điệu chủ" đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không (như "Khát vọng", "Tây du ký", "Vương triều Ung Chính") theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước.

Ồ ạt "xâm lăng văn hóa"

Song song với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, nhất là phim truyền hình, sang các nước trong khu vực mà đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến hành "Trung Hoa hóa" các sản phẩm của những nước này.

Bất chấp việc giới truyền thông Việt Nam đưa tin đậm về những phim hợp tác giữa hai nước như "Hà Nội Hà Nội" hay "Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong", các bộ phim này chưa bao giờ được ưu tiên chiếu giờ vàng trên sóng truyền hình của bất cứ đài nào ở Trung Quốc. Ví dụ, "Hà Nội Hà Nội" chỉ được phát trên đài tỉnh Quảng Tây, Nam Ninh vào lúc… đêm khuya thanh vắng.

Với nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình nổi tiếng đến từ các nước khác, Trung Quốc thực hiện làm mờ tính nước ngoài của chúng. "Vua Kungfu" (Forbidden Kingdom) dù là phim của Mỹ và từ đạo diễn đến quay phim, phục trang đều là người Mỹ, nhưng khi đến đại lục, phim mặc nhiên được giới truyền thông nhào nặn thành sản phẩm Trung Hoa.

Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q), mẹ là người Việt, cha mang quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii, nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa

Các ngôi sao châu Á của Hollywood cũng bị "Trung Hoa hóa" tương tự. Khán giả Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung dễ lầm tưởng rằng Dương Tử Quỳnh, Maggie Q. (Lý Mỹ Kỳ - mẹ là người Việt Nam) là người đại lục.

Trung Quốc cũng khéo léo lờ đi chuyện quốc tịch của nhiều diễn viên nổi tiếng trong nước họ: Hầu như rất ít người biết rằng ngôi sao Trương Thiết Lâm mang quốc tịch Anh, Tư Cầm Cao Oa là người Thụy Sĩ, Ninh Tĩnh là người Pháp, còn mỹ nhân Chương Tử Di gốc gác Hong Kong.

Đằng sau chiến lược xuất khẩu văn hóa của Trung Quốc

Một nước lớn với dân số hùng hậu như Trung Quốc khó mà chấp nhận tầm ảnh hưởng ít ỏi ở thế giới. Và trên con đường "trỗi dậy hòa bình" để trở thành bá quyền ít nhất là trong khu vực, Trung Quốc mau chóng nhận thấy sức mạnh của văn hóa - thứ "quyền lực mềm" đầy quyến rũ.

Chẳng riêng Trung Quốc biết điều đó. Như một nhà nghiên cứu người Hungary, Márkus Péter, đã viết: Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, khi không có sự khác biệt đáng kể trong kỹ thuật, sức mạnh chân tay - quân sự thô kệch còn chiếm vai trò chế ngự. Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật - kinh tế từng bước chiếm ưu thế. Từ thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi.

Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức bá quyền chủ yếu.

Pháp và Đức là hai quốc gia rất chú trọng tới vấn đề "bá quyền văn hóa" này. Các hoạt động “xuất khẩu văn hóa” của họ được tiến hành mạnh mẽ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó ngay tại Việt Nam: Chương trình hoạt động thường niên của Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) và Viện Goethe sôi nổi hơn hẳn so với Hội đồng Anh (British Council) hay Viện Cervantes của Tây Ban Nha.

Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế. Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam, cả trung ương lẫn địa phương. Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam. Các ca sĩ thời thượng rành rẽ về trang phục của đời Thanh và chắc chắn là sẽ không trả lời được câu hỏi vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa ăn mặc như thế nào.

Ngay trong giới trí thức, tâm lý sùng bái văn hóa Trung Hoa đã rất nặng. Một số đông trí thức Việt Nam có thể dễ dàng trích dẫn các điển tích, điển cố của Trung Hoa thay vì của phương Tây hay thậm chí của chính nước mình. Nói tới văn hóa Trung Hoa là nói tới một nền văn học với những tác phẩm vĩ đại, tới triết học thâm sâu, tới sân khấu kinh kịch có sức sống trường tồn, tới điện ảnh với những nhân tài mà ngay cả Hollywood cũng phải kiêng nể.

Điều này không sai, tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là nhiều trí thức Việt Nam luôn vị nể quá mức thay vì đặt văn hóa Trung Hoa vào tương quan đúng mực với các nền văn hóa khác trên thế giới - cũng rực rỡ và vĩ đại như thế.

Khái niệm bá quyền văn hóa - tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời (1). Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện bá quyền văn hóa - tư tưởng với láng giềng Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc "xâm lăng văn hóa" này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.

Vấn đề đến từ phía những kẻ bị “xâm lăng”

Bá quyền không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị bá quyền.

Riêng trên địa hạt văn hóa - tư tưởng, các học giả nghiên cứu về bá quyền văn hóa đều cho rằng bá quyền văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị bá quyền.

Như thế, việc Trung Quốc tiến hành bá quyền văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của nước bị bá quyền, ở đây là Việt Nam.

Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, nên có sự trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng.

Việt Nam có thể thỏa thuận các chương trình trao đổi văn hóa với Trung Quốc (2), theo đó, đồng thời với việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước láng giềng, Việt Nam sẽ xuất khẩu văn hóa theo hướng ngược lại, xuất bản sách, tổ chức những ngày văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam... tại Trung Quốc.

Theo một thống kê (3) được công bố trên tờ "China Daily", năm 2004, Trung Quốc nhập khẩu 4.000 đầu sách từ Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu 14 đầu sách sang nước này; nhập 2.000 đầu sách từ Anh, nhưng chỉ xuất sang đây 16 đầu sách.

Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở Trung Quốc, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang biểu diễn tại Nga. Giai đoạn 2000-2004, Trung Quốc nhập khẩu trên 4.000 phim và chương trình truyền hình, nhưng xuất khẩu không đáng kể. Dòng phim "giai điệu chủ" hầu hết chỉ tiêu thụ được ở khu vực Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là "tiền đồn".

Đã đành Nga, Mỹ và Anh là ba nước lớn nên Trung Quốc không dễ tiến hành bá quyền văn hóa như với Việt Nam. Nhưng ngay cả một quốc gia nhỏ bé ở Đông Âu là Hungary - diện tích chỉ bằng một phần ba Việt Nam, dân số 10 triệu - thì cũng từng tổ chức Năm Văn hóa Hungary tại Trung Quốc (2007-2008), và dựng tượng đại thi hào dân tộc Petőfi Sándor ở Thượng Hải.

Những thông tin này có gợi cho chúng ta một suy nghĩ gì chăng?

Nguồn: Blog Đoan Trang
Bài đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới, 17/5/2009

(1) Khái niệm “bá quyền văn hóa” (cultural hegemony) do Antonio Gramsci (1891 - 1937) - triết gia chính trị, sáng lập viên Đảng Cộng sản Ý - đưa ra từ những năm 30 của thế kỷ trước. Gramsci cho rằng, để có được và duy trì quyền lực chính trị, giai cấp vô sản phải thực hiện bá quyền văn hóa, phải có tiếng nói thống trị trong truyền thông đại chúng và giáo dục, cũng như phải tiến hành kiểm soát toàn diện trên bình diện tư tưởng và tín ngưỡng.

(2) Đầu tháng 4, Văan phòng Chính phủ đã có công văn số 1992/VPCP-QHQT gửi Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Văn phòng Trung ương Đảng thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập thí điểm một học viện Khổng Tử tại Việt Nam.

Học viện này có chức năng đào tạo tiếng Trung, tư vấn du học, tổ chức các hoạt động văn hóa. Trung Quốc có kế hoạch thiết lập khoảng 100 học viện Khổng Tử tại nhiều nước nhằm mục đích phổ biến văn hóa Trung Hoa ra thế giới.

Truyền bá văn hóa của đất nước mình là điều bất kỳ chính phủ nào cũng nên làm. Vấn đề chỉ là làm sao để có sự trao đổi văn hóa song phương và mọi quan hệ đều là hợp tác tương hỗ.

(3) Số liệu lấy từ bài "Trung Quốc tăng cường trao đổi văn hóa" trên "China Daily". Báo "Người đại biểu nhân dân" dịch và đăng lại, 26-12-2006.


Xem thêm:
- Hai quốc tang!
- Văn hóa ngoại giao!?
- Điều đọng lại sau sự ra đi của vị Đại tướng huyền thoại