Showing posts with label phật. Show all posts
Showing posts with label phật. Show all posts

Sunday, December 22, 2013

Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ

>> Vì sao xảy ra Hải chiến Hoàng Sa 1974?
>> Khắc phục hậu quả tốt, Dương Chí Dũng thoát án tử? (lại làm công tác tư tưởng dư luận!)
>> Cần suy ngẫm vì sao nhiều người vẫn phải bán hàng rong


HUỲNH NGỌC TRẢNG - NGUYỄN ĐẠI PHÚC

Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam.

Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích;
Ông Trí tiên tu hậu hữu danh.

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí.

Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại - đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoảng hơn 40 ngôi chùa mục đồng khắp các địa phương ở Nam Bộ.

1. Chùa mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình - chùa - miếu - võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt... và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư Tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp...

Ở An Phước tự (tục danh chùa mục đồng Hóc Tra / An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) - cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi: nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dưới chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình... khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự / Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú... cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi, TP.HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử - Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật  chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy - để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng trùm cả và trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, hương chức đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa lá để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo...

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi giạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ Phật tử... và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam Bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo quy phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi quy về đồ tượng học Phật giáo: quý tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục... Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ.... Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình, chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập họp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP.HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ kheo hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó - tất nhiên là không hoàn toàn đúng như quy thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của Đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện.

Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng - một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tượng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa - tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử
.(1) Theo quan niệm phổ biến ở Nam Bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỷ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đông ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nỗ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện... lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một sô thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.

Nguồn: Giác Ngộ


Xem thêm:
- Quyền năng của chữ nhẫn
- Hãy nhìn vào Phật, chớ nhìn vào Tăng
- Đất nước nhìn từ những tượng Phật thật to

Thursday, November 7, 2013

Hãy nhìn vào Phật, chớ nhìn vào Tăng

>> ‘Cơ quan điều tra VN thuộc diện giỏi nhất thế giới’
>> Dân bức xúc vì trụ trì rước tượng mình vào chùa
>> Vật chất tuy còn những khó khăn, nhưng an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo (Đại biểu Thích Thanh Quyết dùng từ đồng chí rất nhuần nhuyễn - Những vụ án như vậy chỉ lực lượng Công an mới khám phá được. Vụ án tham nhũng càng lớn, tính chất tinh vi, phức tạp càng cao, lại được “bao bọc” bởi nhiều yếu tố. Các đồng chí khám phá được bởi có chuyên môn nghiệp vụ, có nhân lực được đào tạo, tôi luyện tốt, có kinh nghiệm đấu tranh, khám phá án và có phẩm chất cao. Cho nên khi tung vào làm những vụ án đó, các đồng chí đã khám phá rất nhanh, phát hiện nhanh nhạy, điều tra, làm rõ được hành vi phạm pháp của từng đối tượng. Đó là thành quả rất lớn của ngành Công an.)


Một lần chúng tôi đi hộ niệm bằng xe ô tô của một cô Phật tử. Trên xe, cô Phật tử lái xe hỏi chúng tôi rằng: “Tại sao có những quý Thầy cả đời tu hành mà lâm chung vẫn hiện tướng ác?”. Cô lấy làm hoang mang vì “tu hành cả đời đến như quý Thầy” mà lâm chung vẫn hiện tướng ác, thì Phật tử tại gia “có còn hy vọng gì không?”. Chư Tổ ngày trước, dù là tu hành theo pháp môn nào, khi ra đi rất tự tại, cho dù có tật bệnh hay không, thần thức không mê mờ, lúc ra đi ai nấy đều sáng suốt, tỉnh táo. Lúc đó, khi đối trước câu hỏi của cô Phật tử, chúng tôi có cả người xuất gia và tại gia không biết nên trả lời như thế nào. Sau cùng, chúng tôi nói với cô rằng: “Tu Phật thì hãy nhìn vào Phật, chớ nhìn vào Tăng”.

Truyền thuyết ghi lại rằng, ba lần vua Càn Long đến núi Phổ Đà (Trung Quốc), là đạo tràng của Quán Thế Âm Bồ Tát, đều gặp một nhóm sư sãi uống rượu, hút thuốc, đánh bạc, ôm vai bá cổ, la hét lớn tiếng. Vua thường nghe mẫu hậu nói về đạo hạnh cao siêu, oai nghi tế hạnh của những người xuất gia ở núi Phổ Đà, nay chứng kiến những cảnh này thấy rất mâu thuẫn. Khi vua hỏi họ tại sao lại như vậy, những nhà sư trả lời rằng: “Đó là gia phong hải ngoại, cảnh giới La Hán, không việc gì đến ông”. Ba lần mâu thuẫn lên tới đỉnh điểm, vua tức giận quyết định cho binh lính san bằng núi Phổ Đà, bắt hết nhóm sư sãi uống rượu hút thuốc kia cho chém đầu. Khi dẫn binh lính vào chánh điện, thấy áo bào và mũ của mình bị mất do đánh bạc thua đám sư sãi, đội trên tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, vua mới hiểu ra rằng đám sư sãi đó chính là Bồ Tát hóa thân để thử ông, đúng như lời mẫu hậu của ông đã nói. Ông liền sám hối trước tượng Bồ Tát, phát nguyện từ nay không dám coi thường sư tăng. Trở về cung, vua kể lại đầu đuôi câu chuyện cho mẫu hậu nghe. Mẫu hậu của ông nói rằng: “Từ nay, khi nào con thấy nhà sư quần áo không chỉnh tề, hành vi không đoan chính, thì con hãy nhớ lấy lời mẹ dặn, con ơi, công đức của Phật vô biên, hãy nhìn vào Phật, chớ nhìn vào Tăng”.

Bạn xem, câu nói này biết bao ý nghĩa, “Hãy nhìn vào Phật, chớ nhìn vào Tăng”? 

Thế nào gọi là “nhìn vào Phật”? Đó là lấy những hành động, lời nói, suy nghĩ của Phật để làm chuẩn cho những hành động, lời nói, suy nghĩ của mình. Từ đâu mà biết được hành động, lời nói, suy nghĩ của Phật như thế nào? Từ kinh điển mà biết được. Đạo tràng chúng tôi vào những ngày tu thường tụng kinh Vô Lượng Thọ, khi đọc tới phẩm 8 “Tích Công Dồn Đức” nói về sự tu hành của Đức Phật A Di Đà khi còn ở quả vị Bồ Tát, trong kinh chép: “Khéo gìn khẩu nghiệp, không chê lỗi người. Khéo gìn thân nghiệp, không mất luật nghi. Khéo gìn ý nghiệp, thanh tịnh không nhiễm”. Hằng ngày chúng tôi tự hỏi mình đã làm được như vậy hay chưa? Khẩu nghiệp không nói lỗi của người, thân nghiệp luôn giữ oai nghi, ý nghiệp thanh tịnh không ô nhiễm, đã làm được hay chưa? Nếu chưa, thì hằng ngày đọc tụng đoạn kinh này, có thấy xấu hổ hay không?

Có một cô Phật tử ở đạo tràng nói với tôi rằng, mỗi lần hồi hướng cuối thời khóa, khi đọc tới Tứ Hoằng Thệ Nguyện “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ – Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn – Pháp môn vô lượng thệ nguyện học – Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”, cô thấy rất xấu hổ. Xấu hổ nhất là “phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”, cô nói, thậm chí chưa đoạn được phần phiền não nào, mà hằng ngày còn tạo thêm phiền não cho chính mình! Nếu hằng ngày đọc tụng cho nhiều, mà không thực hiện được lời trong kinh, vậy thì chúc mừng bạn, hằng ngày bạn lừa Phật dối Bồ Tát rất nhiều!

Vì vậy, “hãy nhìn vào Phật”, để tự phản tỉnh và sửa lại hành động, lời nói, suy nghĩ của chính mình, để chính mình chân thật có được lợi ích từ việc học Phật, chứ đừng “nhìn vào Tăng”, để phán xét đúng sai rồi chính mình làm tâm mình không tròn vẹn, không được sự lợi ích thân thật.

(Tâm An)



Tuesday, July 16, 2013

Bởi yêu là dại

>> Vốn 'tri thức' đối ứng
>> Song trùng trực thuộc
>> Câu hỏi không khóMột bác cựu lãnh đạo Ban Nội chính TƯ đã nói cách đây không lâu rằng, mấy anh CSGT và TTGT chỉ là “ăn” vặt. Lợi ích nhóm lớn hơn nhiều. CSGT, TTGT chỉ “ăn” ở trạm, ở chốt, còn nhóm họ vĩ mô hơn, “xơi” cả con đường…)
>> Bồi thường 1m2 đất bằng giá... nắm xôi
>> GS Võ Tòng Xuân: Bỏ mặc nông dân mạnh ai nấy làm


Ta phung phí khắp nẽo đường bong bóng
góp về mình một chút liêu xiêu
bởi yêu là dại,
bởi yêu...
là để cho nhau nụ cười?

Viết về tình yêu
một tình yêu có họa hình đôi lứa
dắt nhau đi chan chứa thì thầm
đàn con nhỏ
bảo ban mình trong sáng?
phép cộng trừ tính toán mãi hóa nhân chia

Viết về tình yêu
một tình yêu có xuất xứ rồng tiên
cội nguồn đó dệt nên bao truyền thuyết
lên rừng vắng cây
ra khơi hết cá
thổ địa khóc cười
khôn dại ở nơi nao?

Viết về tình yêu
một tình yêu có nhau rốn đồng bào
thiêng liêng lắm mà nghẹn ngào nên nổi
dưới xác xương khô
bên ly rượu nhỏ
chó đổi mạng người
ma mừng khắp chốn
phật biết phận mình
đâu dám nam mô

Viết về tình yêu
một tình yêu có lời nguyền tổ quốc
nén nhan kia chưa nguội tắt bao giờ!
trong bóng tối
quỷ liên hoan khiêu vũ
la ré tầm thường
trâng tráo vét vơ...

chân lý
không biết đùa
những ngọn nến đang nguyện cầu nơi chuông đổ
ánh sáng kinh hoàng
ánh sáng của tình yêu?

Yêu là dại
mà dại hóa thành yêu
mà hóa thành phi thường muôn thuở.

MP
(15/07/2013)

Xem thêm:
- khổ đế
- tụng kinh ngồi
- bát ngát thinh không

Friday, May 15, 2009

Nhìn đất nước từ cảm nhận thành phố nhỏ bên sông Hàn

Chào mừng bạn đến với Phuocbeo Blog!



Có một nhà báo viết trên ViêtNamnet một câu vè: "Mong ông công tác dài lâu/ Để ông xây tiếp vài cầu cho dân" để ca ngợi một ông Chủ tịch TP. Từ đó, tôi hiểu rằng, nhà báo cũng có dăm bảy nhà báo. Có lẻ, tôi còn nhỏ tuổi, nhưng tôi cam đoan chắc rằng, từ khi tôi sinh ra đến nay đã hơn 30, đã đi khắp hang cùng ngỏ tận của thành phố biển này, chưa nghe ai đọc câu vè này cả, cái tôi được nghe là: "Trời cũng Thanh, Đất cũng Thanh"
Nhìn lại quá khứ, Đà Nẵng, Huế, Nha Trang .., là một trong những thành phố lớn trước giải phóng, có cơ sở hạ tầng, dịch vụ, dân trí tương đối tốt. Sau giải phóng, Đà Nẵng là một thành phố trực thuộc tỉnh QN-ĐN, chính vì thế, muốn phát triển nó, phải song song với sự phát triển của Quảng Nam, đó là sự suy nghỉ trăn trở của nhiều vị lãnh đạo tỉnh lúc bấy giờ, khó khăn của các huyện miền núi luôn đè nặng lên vai. Ngày 01/01/1997, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc TƯ, tách ra một Quảng Nam khốn khó để chuyển mình thay đổi . Không phủ nhận vai trò ông Thanh, nhưng so với các tỉnh lân cận, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, ông ta may mắn hơn các lãnh đạo của các tỉnh đó nhiều . Với số dân dưới một triệu, đa số sống ở thành thị, có nền tảng tri thức, vốn ngân sách như nhau, địa hình nước non đẹp, sự thuận lợi này không phải ai cũng có được.

 Thế là, Đà Nẵng chuyển mình bằng việc đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị ... Cái dể cho họ thấy nhất là hình thức bên ngoài, cái thất thoát cao nhất là xây dựng cơ bản, thật cao thủ. Cầu sông Hàn không thể so sánh với Tràng Tiền về cái đẹp, cũng không thể so sánh với Mỹ Thuận về độ hoành tránh và hiện đại, nhưng nó là biểu tượng của Đà Nẵng bởi một giai thoại khác. Khi vừa khánh thành xong, có 2 nhân vật nổi tiếng phải ra Hà Nội, ông Giám đốc một công ty xây dựng (tầm cở quốc tế duy nhất lúc đấy ở VN) bị di lý để điều tra và ông Giám đốc công an chuyển công tác lên Bộ. Phiên toà đã được xử, trong các tội của ông Giám đốc xây dựng kia, có tội hối lộ, nhưng nhân vật nhận hối lộ không 'xuất hiện' . Có lẻ, nhân vật ấy là "ma quỷ" nên thoát được "lưới trời" . Hy vọng, cái chết trước không đau đớn bằng cái chết sau. 

Dẹp yên "phiến loạn", gặp thời quả bong bóng thị trường đất đai, địa ốc ... Đà Nẵng tập trung lên sơ đồ quy hoạch, con đường, điện, nước .., thế là những nền nhà hình chữ nhật hình thành nên với giá ngày sau cao hơn ngày trước . Người dân đang trong hẻm trở thành mặt tiền, họ "thờ sống" người chỉ đạo. Người dân được đền bù, giải toả thì có một số tiền mặt trong tay, họ sắm sửa, ăn nhậu ...Cái điều cơ bản là "chuyển đổi nghề nghiệp" thì họ lại mạo hiểm đánh đố với chính bản thân mình và bởi chính những đồng tiền nhỏ nhoi trước mắt, họ mơ hồ sự thất nghiệp trong tương lai. Rồi, luật đất đai chưa được rõ ràng, chính sách chưa được minh bạch, một số kẻ cơ hội phất lên, người thiệt thòi thì kiện tụng, kiện địa phương không được thì ra trung ương, khiếu kiện kéo dài.

 Hai ông trong Bộ chính trị thời ấy là Trương Quang Được và Phan Diễn từng làm bí thư Đà Nẵng.

 Theo đà bong bóng địa ốc, đất đai, người dân rủng rỉnh tiền bạc, cán bộ rủng rỉnh tiền bạc, nhậu trở nên nổi tiếng ở Đà Nẵng. Quán nhậu mọc khắp nơi, đủ mọi kiểu . Có người nói, Đà Nẵng nhậu nhất nước, người đứng đầu TP phản bác là chưa tổ chức thi sao biết là nhất. Gớm! thấy đã khiếp rồi, ai dám thi, mà tâm lí người đời, chẳng ai đầu tư thời gian chế tạo một cái đồng hồ rồi đem thi thố với đồng hồ Thụy Sĩ.

Chỉnh trang đô thị, cơ sở hạ tầng, Đà Nẵng phát triển du lịch, dịch vụ. Công viên nước được xây dựng, rùm beng được mấy ngày, bây giờ vắng hoe, báo lổ. Sài Gòn làm công viên nước vì người dân họ muốn tắm biển phải xuống Vũng Tàu, Phan Thiết, đã thế dân họ đông, cách đầu tư quy mô và chuyên nghiệp. Đằng này, chỉ cần thấy người dân ĐN trong những buổi chiều hè ở biển là đủ hiểu. Ngồi trên cáp treo ngắm Bà Nà, bé tẻo tẻo, khu du lịch công doanh thì điều hiu, khu du lịch tư doanh thì loè loẹt, màu mè, nghe đâu đã chuyển sang chủ khác, mong ông chủ mới có cái gì đó hay ho hơn.

Trên Bà Nà, phát hiện một tượng Phật thật to, xuống Hoà Minh, thấy một tượng Phật rất to, lên Sơn Trà lại một tượng Phật quá to, du chơi Non Nước cũng một tượng Phật to. Phật khuyên đừng sân si, sao người ta lại tạo Ngài mỗi lúc mỗi to. Ông trưởng Hội Mỹ Thuật Đà Nẵng, ông học chuyên ngành Tạo hình, sao ông không có đề xuất gì để Đà Nẵng có một Tượng xứng tầm.

Dọc theo con đường Sơn Trà Điện Ngọc, toàn là rì- sọt, khách sạn, nhiều khủng khiếp, nhiều đến tận Hội An. Và con đường ven biển ấy không làm sao nhìn thấy biển được, một bức tường vô cảm và phản cảm đã được xây lên, kéo dài qua tỉnh bạn. Các khu du lịch đấy được "sở hữu" vài chục năm trở lên, có nghĩa là người dân không thấy biển trong vài chục năm, và có lẻ... vài chục năm cũng có thể là đời người. Biết bao làng chài đã được đánh đổi cho nó.

Bác taxi tại sân bay Đà Nẵng nói rằng, khách du lịch xuống sân bay thường đón xe đi Huế hay Hội An luôn, họ nói, buổi tối ở Đà Nẵng buồn và tẻ nhạt lắm. Đúng thật, thành phố du lịch gì mà lâu lâu mới thấy một ông Tây, thỉnh thoảng mới xuất hiện một bà Tàu.

Để quản lí trật xã hội, công an thôi chưa đủ, một lực lượng gọi là Thanh niên xung kích, tuyển chọn chủ yếu từ bộ đội nghĩa vụ xuất ngũ, hùng hùng hổ hổ một thời. Bây giờ, chẳng thấy tăm hơi. Nhiều người đến Đà Nẵng ngạc nhiên thấy không có ăn xin, đúng rồi, rác đã vứt qua hàng xóm láng giềng, tuy không thấy rác, nhưng mùi hôi thối thì cùng ngửi chung.

Đã nói đến hôi thối, là nói đến môi trường . Chi không biết bao nhiêu tiền để xử lí nước thải, sao mà biển cứ hôi. Có lẻ, tiền mua hoá chất tốn quá, đóng van . Rồi cái chuyện cây xanh, đường Nguyễn Văn Linh thì nồng nặc hoa sữa, đường Nguyễn Tất Thành thì trơ trọi, xác sơ, đường Lê Lợi thì có thân mà không có lá, trong khi Đà Nẵng thiếu cây xanh trầm trọng, đang tiến hành một dự án hành chục tỉ đồng cho cải tạo cây xanh. 

Cuộc họp Hội đồng Nhân dân TP mới đây, chỉ có vài vị phát biểu, còn lại, ngồi im re. Chủ toạ cười thì cười theo, chủ toạ "nhăn" thì cúi mặt. Mà đúng là Đà Nẵng ít "tiêu cực" thật, đến nổi các vị đại biểu nhân dân ngồi lắng nghe chủ toạ nói chuyện về sân gôn gần nữa tiếng. Chủ toạ khoe là có một bộ gậy gôn nhưng không dám chơi, sợ bị "nghiện", thật khôi hài, tất cả các lãnh đạo VN sống chân chính bằng đồng lương thì sao có thể đủ tiền chơi gôn được .Người ta làm sân gôn để kinh doanh, chẳng lẻ xin chơi chùa.

Muốn phát triển mạnh hơn nữa, Đà Nẵng có chính sách thu hút người tài, nhưng "người tài lại cứ tạt ngang" như một tờ báo đã nhận định. Trước khi cầu tài thì bản thân mình phải cầu thị . Ai đời, một đội bóng đá lại sợ ông chủ tịch hơn là HLV, ai đời, một chủ tịch lại ra sân chỉ đạo đội bóng thay cho HLV. Vị HLV đó chuyển sang làm việc cho Bình Dương và giúp cho đội bóng này 2 cúp vô địch liên tiếp. Tài thì không biết tới đâu, nhưng tuỳ hứng và thiếu chuyên nghiệp thì quá rõ.

Quốc hội vừa họp xong không lâu, báo đài được bắn tin, Đà Nẵng xin bầu Trực tiếp Chủ Tịch thành phố. Hết pháo hoa, đi bộ, rồi đến bầu trực tiếp, hãy giải quyết được mối quan hệ giữa một Chủ tịch dân bầu không Đảng và Thành uỷ rồi hãy phát ngôn. Nhà văn Đào Hiếu gọi đây là "Bánh vẽ".

Rạp hát Trưng Vương củ bị phá bỏ khi đang ở độ tuổi đôi mươi, rạp Trưng Vương mới với kiến trúc mới không biết hưởng dương bao nhiêu tuổi. Cây cầu Thuận Phước chưa xong, hai cầu khác lại tiếp tục tiến hành.

Còn vài ngày nữa là tết con Trâu, một cuộc đình công của công nhân đã diển ra trên địa bàn TP, họ chưa nhận được tiền lương tháng 13.

Chuyện không hay còn rất nhiều, chuyện hay thì báo, đài đã dành hết. Hậu cầu sông Hàn đang diển biến phức tạp. Bong bóng bất động sản bay rồi đến ngày cũng nổ tung hoặc xì hơi. Đà Nẵng đường xá đã đẹp hơn, đã có cao ốc, siêu thị, có nhiều người sắm xe ô tô, biết ăn ngon mặc đẹp, nhưng nền tảng của sự bất ổn đang được chôn bởi một lớp cát mỏng. Thiên tai, mưa bão sẽ làm lộ ra ngay.

Ngày cuối năm Mậu Tí, nhìn đất nước từ cảm nhận thành phố nhỏ bên sông Hàn.

MP

Xem thêm:
- Khôn khéo ngụy biện lấn át thiện tâm
- Quá ẩu hay là sự ngây thơ đầy toan tính