Showing posts with label bất cập. Show all posts
Showing posts with label bất cập. Show all posts

Sunday, November 17, 2013

Điều tra viên và một số tất yếu

>> Pháp: Bắt kẻ giết người để ăn thịt
>>>>> Lật lại Vụ án oan Đỗ Thị Hằng ở Bắc Giang: Lời kêu oan chìm trong vô vọng
>> Nguyên tắc suy đoán vô tội - Tình hình áp dụng trong công tác xét xử ở Việt Nam
>> Bần tiện với Philippines, Bắc Kinh bỏ lỡ cơ hội "quyền lực mềm" ở Đông Nam Á
>> Vụ người bị kết án (oan) Nguyễn Thanh Chấn – ai chả bức xúc
>> Ông Chấn tố điều tra viên ép cung: Vụ việc có bị rơi vào quên lãng?
>> Quy trình đẻ ra án oan và cơ chế minh oan cho người vô tội


Với sự đổi mới trong công tác tổ chức điều tra hình sự thì vai trò của Điều tra viên (ĐTV) cũng được tăng cường theo hướng chủ động tấn công tội phạm. Từ chỗ chỉ làm công tác xét hỏi một cách thụ động trên hồ sơ, giờ đây vai trò của ĐTV được nâng cao. ĐTV là diễn viên chính thực hiện việc đánh án bắt đầu từ các khâu đầu tiên như khám nghiệm hiện trường vụ án, thu thập chứng cứ, xét hỏi khai thác đối tượng cho tới khâu lập hồ sơ vụ án để sếp của anh ta ký chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát đưa đối tượng ra truy tố. Áp lực lên diễn viên này là rất lớn: áp lực chính trị, áp lực xã hội đòi hỏi phá án, ĐTV có thẩm quyền rất lớn (không bị chế ngự), cộng với nhiều yếu kém khiến điều tất yếu phải xảy ra.

Hàng năm, số vụ trọng án xảy ra trên địa bàn cả nước lên tới con số hàng chục nghìn (chưa kể án tồn đọng từ năm trước kéo sang năm sau). Do quy định trong Bộ Luật hình sự và Tố tụng hình sự nên cơ quan thụ lý điều tra chủ yếu là Công an cấp tỉnh với chủ công là lực lượng Điều tra viên tại các Cơ quan cảnh sát điều tra.

Sau khi có quy định chuẩn hóa đội ngũ của Tổng cục Xây dựng lực lượng Bộ CA, số lượng Điều tra viên cao cấp tại cấp tỉnh không nhiều, thực tế là quá ít nếu so với số lượng các vụ án xảy ra trên địa bàn. ĐTV thì khá hổ lốn. Số người được đào tạo chính quy tại khoa điều tra khá ít. Nhiều anh tốt nghiệp khoa điều tra ra do không có “cửa” hoặc “cửa” không sáng lại bị phân đi gác cổng hoặc coi tù. Khối anh chân ướt chân ráo vừa đánh được vài vụ ma túy dưới huyện, như có phép thần, nhảy vụt ngay lên cơ quan điều tra tỉnh trong khi nghiệp vụ điều tra gần như con số 0. Các tỉnh khó khăn thì số lượng ĐTV cao cấp còn ít nữa. Để giải quyết vấn đề “chuẩn hóa”, người ta đưa ra sáng kiến “đi tắt, đón đầu”, tức là mời cơ sở đào tạo của Bộ như Học viện CSND, Học viện ANND mở các lớp đào tạo ĐTV theo hệ “vừa học vừa làm” hoặc “hoàn thiện nghiệp vụ” tại địa phương.

Lớp học thì diễn ra tại hội trường CA tỉnh. Tổ chức lớp học thì giống một cuộc họp chính trị. Thầy đứng ở bục tận trên cao cứ thao thao bất tuyệt đọc qua micro. Hàng trăm điều tra viên tương lai ngồi dưới, kẻ thì gọi điện, người nhắn tin, anh thì đọc báo hay tranh thủ trao đổi với đồng nghiệp. Không sao. Toàn bộ tài liệu đã được phô tô phát tận tay rồi còn gì. Thi thố, kiểm tra thì đã có Ban tổ chức lo liệu với phần “đóng góp” tích cực của học viên  trên cơ sở phương châm: đã có quyết định cử đi học là đỗ. Chạy được quyết định cử đi học của Phòng Tổ chức CA tỉnh là quan trọng nhất, mệt hơn cả việc học tập. Có được quyết định coi như đã có thẻ ĐTV. Con đường đi lên ĐTV với nhiều đồng chí cũng rất vòng vo. Từ lính nghĩa vụ, học sơ cấp, rồi trung cấp, sau đó làm quả ĐTV vừa học vừa làm mở tại tỉnh hệ đại học. Các đồng chí này lấy đâu ra IQ để đấu trí với tội phạm cho nên thường phải sử dụng “biện pháp nghiệp vụ”.

Công tác đào tạo chuẩn hóa có bất cập là: nội dung phần lớn là lý thuyết được các thầy lĩnh hội từ thời còn Liên Xô với Đông Đức, chủ yếu về tính chuyên chính, trấn áp trong hoạt động của Công an. Nội dung thực hành vốn đã quá ít ỏi, lại còn bị bỏ qua vì CA tỉnh thì lấy đâu ra trang thiết bị mà thực nghiệm, mô phỏng. Bi kịch tất yếu bắt đầu từ đây.

Khám nghiệm hiện trường: Điều tra viên bước vào khâu đầu tiên của vụ án với kiến thức vô cùng ít ỏi về công tác này. Ngay kiến thức cơ bản nhất như vật liệu nổ, đường đạn, vũ khí mà đa số các đồng chí đều mít tịt, nói chi tới những kiến thức cao siêu hơn phục vụ phá án. Trang thiết bị khám nghiệm thì sơ sài. Hành trang bước vào đánh án chỉ có cái va li khám nghiệm. Trong va li có gì? Kính lúp cầm tay, chổi lông, ít bột hóa học, thước dây, máy ảnh, giấy và bút. Án thì phức tạp lên nhiều nhưng va li khám nghiệm 50 năm nay vẫn y nguyên, không có gì mới. Bộ năm nào cũng có đề án tăng cường trang thiết bị nhưng chỉ thấy tăng cường ở đâu đâu.

Thu thập chứng cứ: chứng cứ được quan niệm là tồn tại khách quan. Do công tác khám nghiệm hiện trường rất sơ sài nên vẫn chấp nhận tồn tại khái niệm “tạo chứng cứ” trong giới điều tra nhằm có được “chứng cứ” từ nhiều nguồn khác, nôm na là thế trận an ninh nhân dân. Trước hết, đặc tình. Mạng lưới đặc tình hiện chủ yếu là dân tù tội, tiền án tiền sự hoặc giới làm ăn mà hiệu quả hoạt động lệ thuộc vào lòng thương của các anh CA. Thế nên nhiều chứng cứ là không có thật, cố được nặn ra để chứng tỏ lòng thành với các anh. Hoặc đặc tình bịa ra để mượn tay CA triệt nhau. Các ĐTV không phải là không biết. Nhiều khi vẫn nhắm mắt để dựng hồ sơ vì án đã đến ngày đến giờ. Dân lương thiện thì càng ngày càng ngại thông tin cho CA phá án bởi đã có nhiều nhân chứng của các vụ án bị đối xử không công bằng. Có lúc, có nơi, nhân chứng bị ĐTV tiện tay nhập luôn cả vào kho bởi “không phạm tội sao mày biết rõ thế” hoặc nếu chứng cứ không “nhạc và lời” với hồ sơ do ĐTV dựng thì bị dọa “khai báo gian dối”.

Mạng lưới chính thống hỗ trợ thông tin thì rất yếu và nhiêu khê. Cơ sở dữ liệu tội phạm rất manh mún. Thế nên mới có chuyện cả một chuyên án lớn của Bộ tốn bao tiền của và thời gian mới ngã ngửa người ra rằng đối tượng truy tìm đang ung dung thụ án rất ngoan ngoãn trong một trại giam của Bộ dưới một tội danh ít nghiêm trọng. Việc chia sẻ thông tin tội phạm giữa các đơn vị thì càng ít. Có tội phạm giết người để lại vân tay tại tỉnh này mà CA chịu không lần ra được thủ phạm. Do ngẫu nhiên, người ta biết được tên đó qua rà soát hồ sơ tiền sự do CA tỉnh bên lập từ lâu.

Khai thác đối tượng: thuật ngữ đấu tranh được ĐTV sử dụng phổ biến. Anh vào tay tôi tức là anh đã có tội. ĐTV mang nặng tư duy trấn áp chuyên chính nên thường triển khai án công tác phá án theo hướng suy đoán có tội chứ không phải >>> suy đoán vô tội. Hình thức đấu tranh kiên quyết, hiệu quả nhất, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm là phải “dạy” cho mấy chưởng. Cũng có thể gửi xuống trại để “nhờ” các lái xe, bộ đội trong buồng giam bắt đối tượng phải “thành khẩn” khai báo. Có khi là dựng đối tượng dậy đi cung triền miên vào ban đêm và ban ngày thì sai bọn phạm quấy không cho ngủ. Khoảng một tuần như vậy thì đối tượng nào cũng phải “thành khẩn” hết. Bi hài nhất là có tay chuyên đột nhập, sau khi đã thành khẩn khai báo thì bị ĐTV tiện tay quy luôn cho một loạt vụ phá khóa khác (hai “chuyên ngành” này vốn khá mâu thuẫn với nhau). Đối tượng giãy nảy: nếu cháu phá được khóa thì dại gì đột nhập nữa. À, ngoan cố chối tội hả. Sau khi tung mấy “nghiệp vụ sắc bén”, ĐTV đã buộc đối tượng phải ngoan ngoãn cúi đầu nhận một loạt các vụ phá khóa kia.

Hiện, việc trích xuất người bị tạm giữ ra khỏi cơ sở tạm giữ rất lỏng lẻo tạo điều kiện cho bức cung, nhục hình. Cảnh “ra đi trai tráng khi về bủng beo”, hoặc, “lúc anh đi không người đưa tiễn, lúc anh về ba bốn thằng khiêng” là chuyện vặt. Luật sư, trên thực tế, chưa được tham gia vào các phiên xét hỏi.

Bình phong vững chắc của các ĐTV: Trọng án xảy ra, việc điều tra, truy tố, xét xử đều phải được chỉ đạo chặt chẽ từ cấp ủy (thường vụ tỉnh ủy) mà Công an (hơn hẳn Viện và Tòa) là có chân trong Thường vụ. Tiếng nói của đồng chí Giám đốc CA mang tính quyết định. Thế nên, quan điểm trong hồ sơ do ĐTV dựng lên thường có được vị trí vững chắc trong các buổi họp án. Đó là chưa nói, lãnh đạo Viện Kiểm sát và Tòa án nhiều địa phương do lãnh đạo CA >>> chuyển sang nên tư duy nể nang là khó tránh. Đảm bảo lợi ích cục bộ địa phương, giữ vững uy tín như thành tích thi đua v.v cũng có khi khiến đồng chí Bí thư Tỉnh ủy phải nhắm một mắt miễn sao anh em “làm cho êm”. Thực tế là vai trò của các cơ quan tư pháp khác là thứ yếu và chịu nhiều áp đặt trong các buổi họp chỉ đạo án. Tính độc lập, khách quan của các cơ quan này do đó bị ảnh hưởng.

Là diễn viên chính của các vở, song Điều tra viên lại may mắn không bị pháp luật ràng buộc phải tham gia vở cuối – vở này mới là quyết định, tức phiên xét xử. Hãn hữu, có vụ trọng án gây tranh cãi lớn tại Thủ đô, Tòa buộc phải triệu tập ĐTV ra đối chất thì ĐTV lại nương vào các quy định về đảm bảo chế độ mật để từ chối cung cấp thông tin làm rõ. Thế nên, dù luật sư và bị cáo (thậm chí cả bị hại) có kêu oan tới đâu thì cũng chỉ là thông tin một chiều và ít được quan tâm một khi hồ sơ đã dựng, án đã đóng, công trạng đã báo cáo lên trên.

Cuối cùng, việc ĐTV và cơ quan điều tra được giao sơ kết, tổng kết công tác điều tra, xử lý tội phạm lại là một bất cập nữa bởi chẳng ai ngu gì đi lột áo cho người xem lưng và những sai phạm mang tính tất yếu của ĐTV vẫn tiếp tục mà không có điều kiện khắc phục, sửa chữa.

Nguồn: Cầu Nhật Tân


Xem thêm:
- Trời ạ! Đào đâu ra chứng cớ bây giờ?
- Đất nước nhìn từ những tượng Phật thật to
- Bức cung, dùng nhục hình: tội "giết người"!
- Nói thêm về vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn

Sunday, September 15, 2013

Chính sách đất đai: Không biết đâu mà lường

>> ĐH Quốc gia Singapore tốt nhất châu Á
>> Cty TQ bị đuổi khỏi triển lãm vũ khí lớn nhất TG
>> Kỷ luật 7 lãnh đạo xã để xảy ra xây dựng trái phép
>> Chính sách đất đai bất cập hay là vấn đề “lợi ích nhóm” và sự vô cảm của những kẻ thực thi


Tư Ếch

Đây là một câu chuyện có thật.

Gia đình ông Sáu Tánh có hơn 10 công ruộng, ông sinh được 4 người con. Mảnh đất mà ông đang ở có từ thời xa xưa, từ cái thời ông tổ nhà ông khai khẩn đất hoang mà có, trải qua từ thời nhà Nguyễn, thời Pháp, thời đế quốc Mỹ, ông chẳng mắt thẻo đất nào dù có lúc gia đình ông chạy loạn mấy năm mới tìm về. Ông chia cho 4 người con của ông mỗi người chừng hơn 2 công ruộng. Phần còn lại chừng khoảng 1 công đất có ngôi nhà ông đang ở, ông giữ lại cho mình.

Vào năm 2003, chính quyền có dư án xây dựng khu dân cư tại vùng đất mà gia đình ông đang cư ngụ. ban đầu, chủ đầu tư ra giá, bồi thường mỗi công đất là 35 triệu đồng, tính cụ thể là 35 nghìn/m2. Tiền sẽ trả làm 3 đợt. Chế độ hậu mãi là, sau khi xây dựng khu dân cư, mỗi đầu hộ dân sẽ được mua một nền đất tái định cư trị giá bằng 50% giá bán thực tế. Họ đoán chừng 20 triệu đồng/nền đất khoảng 80-100m2. Họ họp dân với một buổi họp diễn ra hết sức vui vẻ và cởi mở có bánh kẹo, hoa quả và mỗi người dự họp được tặng theo 1 phong bì có 50 nghìn đồng, 2 ký xà bông, 0.5 ký bột ngọt, hai chai nước mắm hiệu “nước mắm cá cơm Quốc Hải”,  1 ký đường cát trắng nhãn hiệu “đường Biên Hòa”.

Trong buổi họp đó, đa phần mọi người đều vui vẻ. Tính ra, mua một nền nhà có đầy đủ đường xá đi lại, hệ thống điện nước, cô sở hạ tầng... nếu làm tạm một căn nhà cấp 4 khỏang 40 triệu đồng nữa thì coi như “an cư lạc nghiệp”.

Buổi họp đó, trong gia đình ông Sáu Tánh chỉ có hai người con trong 4 người tới dự. Một người bị ốm còn cậu út Mót thì đi làm công ở xa không về kịp.

Hai người con của ông Sáu sau khi đi họp về, họ nhận phần bồi hoàn giống như hàng trăm hộ nông dân khác nhưng món tiền so với họ quả là to lớn. Hàng loạt gia đình mua xe máy chạy rầm rầm, sắm ti vi, đầu hát karaoke rộn ràng cả khu xóm… quả là bộ mặt xã hội đã khá lên thấy rõ sau vụ bồi thường.

Một số rất nhỏ các hộ gia đình, họ không đồng ý nhận bồi thường theo giá nhà đầu tư đưa ra. Sau hơn một năm cù cưa, ban quản lý dự án mời riêng từng hộ lên thương lượng. Theo quan sát, cứ ai đến sau thì giá sẽ được bồi thường cao hơn người đến trước đó… Và anh con trai út Mót của ông Sáu là một trong những người cuối cùng nhận giá bồi thường để họ giải toả mặt bằng thi công. Giá thoả thuận được đưa ra là 98 triệu/ 1000m3; gấp 2,8 lần so với số tiền mà anh chị em của anh nhận được.

Ai cũng thấy kỳ cục, nhưng không ai đủ chữ nghĩa để viết đơn thưa gửi… Chẳng ai làm thế cả.

Và ai cũng thấy qua dự án này đã xuất hiện một mỹ ngôn “đại gia Lợi”, người trước đây là chủ lò heo quay, buôn bán gà vịt. Anh ta giàu lên một cách chóng mặt.

Cũng từ khi đó, người con trai thứ hai của ông Sáu là anh Hai Lép phải quay về ở cùng cha mẹ. Dân cả vùng đó dù có được mua nền đất tái định cư thì họ cũng sang nhượng “bán non” vì họ không quen cuộc sống thiếu đất nông nghiệp. Miếng đất nhỏ và căn nhà ông Sáu không nằm trong khu quy hoạch, nguồn gốc ghi trong tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất vườn, có một con đường nhựa chừng 6 m ngang chay qua trước căn nhà.

Sau khi nhận tiền bồi thường đợt 3, anh Hai Lép lại được cha mẹ cho “ra riêng” lần thứ hai khi làm giấy xẻ 150 m2 đất cạnh bên, cho gia đình nhỏ của anh. Anh Hai Lép muốn cất nhà với số tiền trong tay còn lại khoảng 50 triệu đồng. Khi lên làm thủ tục xin cất nhà, cán bộ địa chính phường nói rằng, trước tiên phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp lên đất nhà ở, nếu không thì anh phạm luật và có thể bị phá nhà bất cứ lúc nào. Số tiền theo tính toán khoảng 24 triệu đồng.

Anh Hai Lép không thể làm giấy chuyển mục đích sử dụng được vì số tiền đó quá khả năng của anh. Cán bộ điạ chính đã “bày” một kế giúp anh là: dùng một số tiền nhỏ thôi (khoảng 3 triệu đồng) bồi dưỡng cho mấy “ổng”,  họ sẽ làm lơ cho anh làm nhà. Sau khi làm xong rồi, họ sẽ tiến hành kiểm tra và sẽ phạt (khoảng 2 triệu đồng nữa) thì coi như xong, anh Hai Lép khỏe re, cứ thế mà ở trong một ngôi nhà trên nền đất vườn trong một khu dân cư mới. Cả vùng đó, chẳng còn ai có đất để canh tác nữa, nó đương nhiên phải là đất ở đô thị nhưng chủ sở hữu vẫn sở hữu đất vườn. Muốn danh chính ngôn thuận được công nhận là đất nhà ở, họ phải đóng tiền cho nhà nước dù rằng mảnh đất đó vẫn nằm đó chẳng có thay đổi gì. Tự nhiên, cán bộ xã phường trở thành “ân nhân” của anh Hai Lép, vì họ biết “lách luật”, đã giúp anh đỡ mất một khoản tiền rất lớn mà anh vẫn xây được nhà.

Đây chỉ là câu chuyện trong một nghìn lẻ một câu chuyện xảy ra trong một gia đình nông dân làm lúa tới 6-7 đời. Tác giả xin không kể những diễn biến sau đó, nghĩa là họ làm gì để sống, kiếm tiền bằng cách nào, số phận họ ra sao, ai còn ai mất…

Nếu chính quyền nào, địa phương nào chịu khó điểm danh/điều tra thì không khó để nắm được số lượng nhà/nhà trọ/công xưởng/nhà kho,….xây dựng trên đất sản xuất chứ không phải đất ở đô thị (đặc biệt xảy ra ở những vùng vừa mới nâng lên khu dân cư/đô thị hay sát nhập với thành phố/thị xã/huyện lị). Đó là lý do mà tại sao khi nhà nước có kế họach thu hồi đất khu này khu khác sẽ có trường hợp hàng trăm ngôi nhà trái phép bị phá bỏ.

Tác giả xin dừng lại, dành lời bàn cho những ông/bà ngồi trong Quốc hội đang manh nha bàn lại chuyện về sửa đổi luật đất đai.


Xem thêm:
- Tại Mai An Tiêm quá ỷ lại
- Tiên sư cha thằng cơ chế !
- "Thị trấn ma" giữa Bắc Kinh và Thiên Tân: 3.000 biệt thự không bóng người


Wednesday, January 30, 2013

Từ đất mà ra

(copy để đó, sẽ viết lời bình sau)

Nguyễn Vạn Phú

Trường hợp 1: Doanh nghiệp A. viết một dự án rất thống thiết, xin địa phương cấp đất để xây nhà máy, hứa hẹn đem lại nhiều công ăn việc làm cho địa phương. Sau khi được cấp đất, doanh nghiệp này bèn xin chuyển đổi mục đích sử dụng đất, dùng phần lớn diện tích để “phân lô bán nền”. Người dân trước đó bị giải tỏa nhường đất để xây nhà máy nay khiếu kiện liên miên vì không chịu nổi sự bất công mất đất cho người khác làm giàu.

Trường hợp 2: Doanh nghiệp B. được cấp một mảnh đất với tổng giá trị 80 tỷ đồng. Ngay sau đó một thời gian doanh nghiệp này sang nhượng mảnh đất này cho một doanh nghiệp khác, có dây mơ rễ má với nhau, với giá được kê khống lên thành gần 600 tỷ đồng. Mảnh đất được dùng để thế chấp, vay tiền ở ngân hàng đến 300 tỷ đồng. Dù đất đóng băng, hai doanh nghiệp này vẫn đã hưởng những khoản lời khổng lồ còn ngân hàng ôm một cục nợ xấu.

Trường hợp 3: Công ty địa ốc C. lập dự án bất động sản, chi phí ban đầu bỏ ra chừng 100 tỷ đồng nhưng nhờ cơn sốt đất đai mấy năm trước định giá dự án đến 500 tỷ đồng. Bản thân dự án được thế chấp để vay vốn ngân hàng được đâu 300 tỷ đồng. Công ty này thu hồi ngay 100 tỷ đồng chi phí ban đầu, bỏ túi thêm 100 tỷ đồng tiền xem là lãi, còn 100 tỷ đồng đang xây dựng dở dang. Nay thị trường suy sụp, công ty bỏ mặc dự án cho ngân hàng; ngân hàng không thu hồi được nợ, cũng không dám xem nó là xấu vì như thế phải trích lập dự phòng rủi ro nhiều. Họ cứ tìm cách đảo nợ, nuôi dự án chờ bất động sản được cứu.

Đây chỉ là một vài ví dụ minh họa cho muôn vàn bi hài kịch mà nền kinh tế và người dân đang gánh chịu, tất cả cũng vì đất mà ra. Mặc dù những trường hợp này được công khai trên báo chí trong thời gian gần đây, thiết tưởng nó là loại chuyện ai cũng biết từ lâu. Vì sao không ai can thiệp?

Với địa phương, tiền sử dụng đất thu từ những dự án trên địa bàn là nguồn thu ngân sách béo bở, dễ kiếm, dễ thu, chiếm một tỷ trọng lớn trong ngân sách, không ai dại gì bỏ qua. Có dự án, có ký giấy tờ tức là có xin-cho, một mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng được khích lệ phát triển ở khắp mọi nơi.

Với ngân hàng, những năm chạy đua tăng trưởng tín dụng, nhất là những năm kích cầu bù lãi suất, họ không dại gì không cho vay nhất là khi cứ tưởng nắm chắc thế chấp là đất đai đang lên giá từng ngày là nắm đằng chuôi. Không loại trừ tín dụng ngân hàng còn đổ vào các công ty địa ốc sân sau của một số cổ đông lớn bất kể thiệt hại trong tương lai cho ngân hàng. Cuộc đua này làm nảy sinh tình trạng sở hữu chéo giờ vẫn còn là mớ bòng bong.

Với doanh nghiệp, một khi mức lợi nhuận từ hoạt động truyền thống không bao nhiêu, lại nóng ruột vì đồng nghiệp lao vào địa ốc đang thắng lớn, rất dễ bị cám dỗ đổ vốn vào địa ốc. Đây là một canh bạc đang làm nhiều doanh nghiệp thua trắng khi đồng tiền lãi ít ỏi của hoạt động chính phải gánh chi phí tài chính nặng nề từ những dự án địa ốc dang dở.

Chừng đó thực tế cũng đủ để mọi người phải thức tỉnh để ít nhất lần sửa Luật Đất đai sắp tới phải cân nhắc những điều khoản nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng đất để thao túng nhiều hoạt động kinh tế.

Trước tiên, không ít thì nhiều, cố tình hay ngẫu nhiên, chính những bên tham gia, gồm doanh nghiệp, ngân hàng và chính quyền địa phương đã thay nhau đẩy giá đất lên cao, tạo ra bong bóng bất động sản. Cứ tưởng giá cao giúp thu được nhiều thuế, tăng lợi nhuận nhưng thật ra rốt cuộc giá cao gây thiệt hại cho tất cả. Chi phí làm ăn ở Việt Nam ngày càng lớn một phần do giá đất tăng vọt trong nhiều năm trước, không nhà đầu tư nghiêm túc nào chịu nổi.

Chuyện đó cũng chưa quan trọng bằng số phận của những người dân có đất bị thu hồi, đang chịu phần thiệt thòi nhiều nhất, đang cầm đơn đi khiếu kiện khắp nơi. Đây là nơi chất chứa mọi sự bất công của một thị trường méo mó, nhân danh phát triển để hưởng lợi trên lưng người dân. Áp lực xã hội, sự đổ vỡ về văn hóa, niềm tin đang là vấn đề gay gắt nhưng thường bị bỏ qua.

Phải sửa luật sao cho việc thu hồi đất của người dân là chuyện “vạn bất đắc dĩ” và không được dùng hai chữ “thu hồi”. Nếu có trưng mua đất của dân thì phải thương lượng với họ một cách sòng phẳng, quyền lợi của người có đất bị trưng mua phải được bảo vệ một cách chặt chẽ. Luật Đất đai 2003 quy định bốn trường hợp cụ thể Nhà nước “thu hồi” đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế gồm: “Đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ” nhưng thực tế chính quyền địa phương nhiều lúc cứ mạnh tay thu hồi đất của dân chỉ để trao cho một doanh nghiệp nào đó. Hạn chế quyền thu hồi đất của chính quyền cơ sở để luật pháp khỏi bị lợi dụng là một bước khởi đầu cần thiết.

Hơn hết, nếu đất có chủ thật sự, tức người dân được trao quyền sở hữu mảnh đất họ đang sử dụng lâu dài và hợp pháp, phần lớn các câu chuyện lợi dụng đất nói trên đã không thể xảy ra. Ngược lại, lúc người dân được làm chủ thật sự mảnh đất của họ, đất sẽ sản sinh sự giàu có cho xã hội tương tự câu chuyện khoán 10 năm xưa. Chúng ta đã không thừa nhận “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu” cho nền kinh tế thì tại sao không áp dụng tinh thần này cho người nông dân vì đất chính là tư liệu sản xuất chủ yếu của họ. Hiến pháp đang được sửa đổi, bổ sung. Tại sao không nhân cơ hội này sửa điều 57 để không nói đất đai “là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” nữa mà thừa nhận nhiều hình thức sở hữu đất đai, gồm cả sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước.